Thơ Đoàn Thuận

.

.

tranh của Bob Ross

” DÒNG SÔNG  QUÊ HƯƠNG”
_________________________________________

VỀ
MỘT DÒNG SÔNG

Xin người chậm phút qua sông.
Thuyền xưa đã mục ta không đưa người.
Bến bờ hãy chậm chiều rơi.
Để ngày tháng cũ chậm trôi theo dòng.

Bình Giang,1968
CÁT SỸ

SÔNG DINH.

Tôi yêu sông Dinh yêu lâu rồi.
Từ khi lời người ru bên nôi.
Từ khi đất vỡ thành ruộng mới.
Khi giọt mồ hôi mặn môi cười.

Nguồn sông xa mờ từ mây bay.
Từ phương La Ngà xuôi phương này.
Một dòng chảy mãi như huyền thoại.
Cho tuổi thơ ai thêm tháng ngày.

Sông bao ngàn năm trôi vào thơ.
Sông qua La Gi từ bao giờ.
Chỉ biết chậm nguồn sông về biển.
Rừng tiễn đưa sông xanh đôi bờ.

Sông mang tình xưa về bao la.
Ai hồn mênh mông buồn xa nhà.
Đầu nguồn mong nhớ Ông thành Núi.
Hòn đảo Thiên Y nhắc tên Bà.

Sông từ ngàn xưa về hôm nay.
Sông ru đời ai qua bao ngày.
Qua ngàn lau lách qua ghềnh thác.
Qua những mùa đi nước vơi đầy.

Sông đưa bao hoa đi ngàn khơi.
Hương vương theo sông về xa vời.
Những mùa nước xuống bằng lăng tím.
Tím cả hồn ai khi chia phôi.

Êm êm khuya khuya mùa trăng đầy.
Miên man sương giăng trong ngàn cây.
Bến chài gác mái con thuyền ngủ.
Ai thức cùng sông cùng nước mây.

Yêu sông quê hương yêu muôn đời.
Cho dù đò ngang buồn không trôi.
Ai về Xóm Cát, Đồi Cỏ Cú.
Sông vẫn trong tôi êm đềm trôi.

La Gi,1965
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

SÔNG HÀN.

Sông Hàn về xuôi dòng êm trôi.
Đưa hương mùa xưa đi xa khơi.
Dưới chân Núi Bể từ muôn kiếp.
Đôi bờ cát lạnh thấm hồn tôi.

Sông đưa nguồn xuân vào muôn đời.
Ai say hoàng hoa đêm ly bôi.
Núi tan tác bể thành cát bụi.
Đá nát vàng phai một cõi người.

Mùa đi hơi đông còn mênh mang.
Len qua ngàn khe sông bàng hoàng.
Hạ đầy bấc biển sầu bóng núi.
Rừng khộp bờ lau bao thu vàng.

Trôi qua  ngàn năm mùa ly tan.
Sông Hàn ru mây xanh non ngàn.
Đất đai bồi đắp cao Núi Nhọn.
Chất ngất ngang trời ngóng xuân sang.

Tàn phai qua đi đời sum vầy.
Buồn vui đâu hay như sương bay.
Hơp tan đắp đổi tình dâu bể.
Núi Bể vơi đi Núi Nhọn đầy.

Bao dòng sông xanh xuôi qua đời.
Bao mùa thơm hương bao hoa rơi.
Núi Nhọn vương mang hồn Núi Bể.
Bên rừng mai lạnh Sông Hàn trôi.

La Gi,1965
CÁT SỸ
[Đoán Thuận]

NHỮNG NHÁNH SÔNG

Những nhánh sông dài âm thầm trôi
gọi mùa xanh biếc từ xa vời.
Ta nghe gió nhớ lùa qua tóc
và cả tên người trên đôi môi.

Nước mang theo mùa ra đại dương.
Bao nhiêu hương núi vương tâm hồn.
Cỏ ngàn năm ngủ đôi bờ vắng.
Một áng mây chiều qua viễn phương.

Ta mong chim rừng xa trở lại
khi mùa mưa lạnh một phương người.
Hoa sông cây bến bao lần đổi,
ta vẫn chờ người trong đơn côi.

Những nhánh sông chiều qua đời ta.
Đâu bờ đâu bến ta mong ngóng,
và lũ chim rừng
vẫn bay xa.

Đoàn Thuận

MỘT BẾN SÔNG

Dù thành phố bao lần thay đổi,
vẫn không quên bến nước đò chiều,
nơi em đã qua dòng sông ấy,
cũng là nơi để lại cô liêu.

Xưa, hẹn nhau tìm về đất trọ.
Miền địa lan, một cõi yên nhiên.
Hương thanh khiết tịnh không tên tuổi.
Xa cách đời dâu bể muộn phiền.

Nếu, em về sang bờ bến cũ,
thì xin đừng gọi chuyến đò xưa.
Người đưa đò sớm thành lú lẫn,
và con thuyền mục nát dưới mưa.

Đã khuất nẻo vào hồn cổ tích.
Cỏ hoa tàn mê muội dưới trăng.
Bao lá chết rụng đầy mấy phố.
Cõi hẹn chờ nay đã lạnh băng.

Đoàn Thuận

TẢN MẠN SÔNG

Mưa chiều xưa, mưa chiều nay,
Cũng là một giọt nước đầy trăm năm.
Rơi từ thuở hạt chưa mầm,
Vẫn rơi mãi đến chỗ nằm lặng thinh.

Con sông quên mất tuổi mình.
Áng mây phổ cổ quên nghìn năm bay.
Ta trong một nỗi nhớ đầy,
Bóng hoa phượng vĩ một ngày hạ phai.

Cây dương ru bóng đêm dài.
Ta nghiêng giấc nghĩ mưa ngoài sông trôi.

ĐOÀN THUẬN

*

BẾN SÔNG

Cuối ngày nhớ một bến sông.
Đôi bờ xa thẳm vẫn mong thuyền về.
Biển mù rớt bão lê thê
Ở đâu con sóng vỗ mê man chiều

CÁT SỸ

BÊN SÔNG DINH

Lau thưa nghiêng trắng sông dài.
Con thuyền gác mái bên ngoài hoàng hôn.
Dòng trôi chia nửa dáng cồn
Hoa bằng lăng rụng tím hồn mênh mông.

CÁT SỸ
Đoàn Thuận

BẾN SÔNG MƯA

Đưa người qua bến sông mưa.
Hoa lục bình tím như chưa kịp tàn.
Chiều đầy sóng nước mênh mang.
Chợt đôi bờ rộng một tràng giang xa.

CÁT SỸ

.
tranh của Nguyễn Thanh Bình

BẾN CŨ

Biệt ly bến cũ bờ xưa.
Thuyền lưu giọt lệ chiều mưa thôn nghèo.
Cánh bèo mang lá vàng theo.
Sông mùa nước nổi, trời heo hút buồn.

CÁT SỸ

BẾN CŨ
VẮNG NGƯỜI

Ngày qua xóm mạc làng quê.
Ruộng đồng bến đỗ bờ đê bãi lầy.

Vẳng xa tu hú gọi bầy.
Đàn cò vổ cánh nhẹ bay ngang trời.
Lời ca vọng cổ  chơi vơi.
Lam thôn câu hát ru đời yên nhiên..

Sông sâu chia cách đôi miền.
Mênh mông lũ ngập đò thuyền ngại qua.
Bên kia sương khói mù pha.
Bên này nước nổi phù sa lắng trầm.

Xuồng con neo dưới bóng râm
Mong chờ người cũ xa xăm không về.
Bèo trôi liễu rũ lê thê.
Cỏ hoang hoa dại tư bề rã riêng

CÁT SỸ
Đoàn Thuân

.
tranh của Bob Ross

DÒNG SUỐI
[thơ Haiku]

Suối từ trời cao rộng.
Từ hơi mây bay, từ mưa rơi.
Thả nước xuống núi đồi.

Nguồn họp lưu rong ruổi.
Trôi qua rừng hoang ngàn đá cuội.
Cát lắng bao dòng trong.

Bao cánh bèo bềnh bồng.
Cỏ hoa đôi bờ rong rêu biếc.
Thảo thơm hương nhật nguyệt.

Du dương tiếng chim xanh.
Róc rách hòa âm cùng thác gành.
Nơi rừng thiêng tĩnh lặng.

Suối reo theo mưa nắng.
Ngầm thấm nước rẫy nương ruộng vườn.
Lắng đọng cùng gió sương.

La Dạ,1964
CÁT SỸ

SUỐI TRONG

Xóm Thượng rừng La Dạ
lắng một dòng Suối Trong,
cho lá hoa bềnh bồng,
xuôi êm về Xóm Hạ.

Nước lạnh tràn gành đá,
bọt trắng pha rong xanh
róc rách dòng âm thanh,
chìm dần vào xa vắng.

Im ru một khoảng lặng,
giữa ban sơ hoang vu,
giữa mong manh sương mù,
chờ mong lời chim hát.

Tu hú gọi hoàng hạc
Gõ kiến nhịp bọng cây
Hoa rừng đưa hương bay
Trầm tích hồn sông núi.

Qua bến bờ mông muội,
Suối vẫn Trong như nhiên
lắng khúc nhạc lâm tuyền
thấm nước tươi nương mạ.

La Dạ, 1960
CÁT SỸ
[Đoán Thuận]

BÊN SUỐI ĐÓ

Một vùng Suối Đó Chùa Đây.
Màu lam chiều tiếng chuông đầy sau mưa.
Tịnh yên vào cõi vô thừa,
Không mờ sương phố, không thưa lau bờ.

Chợt vàng bướm tự ngẩn ngơ.
Dựa lưng bến ngủ, ta chờ mộng ta.

CÁT SỸ

BÊN SUỐI TIÊN

Hoa mua tím thẳm trong chiều
Một bờ suối vắng ít nhiều sương bay.
Phải đâu hồn của cỏ cây,
Sắc hương bến mộng bóng ngày tĩnh không.

Mây bay mấy độ bềnh bồng,
Phấn hoa màu cỏ lặng trong cõi người.
Một dòng trôi mãi về trời.
Giọt vô biên rụng xuống đời lặng thinh.

CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

BÊN SUỐI VẮNG

Người đi đãi cát tìm vàng
Ta còn mê mải về ngàn rong chơi
Qua con suối vắng tìm lời
Gieo câu lục bát vào nơi lặng thầm

Chợt nghe bấc lạnh căm căm
Giật mình tóc đã hoa râm lâu rồi

ĐOÀN THUẬN

.
tranh của Terry Redline

HỒ TÔM.

Đêm Hồ Tôm mùa trăng loáng bạc
Tưởng mùa xưa còn đọng không gian
Trong biếc liễu hạc về núi cũ
khúc đàn rơi sâu thẳm xa ngàn

Ta như gặp mình trong cổ tích
Trăng qua đây rơi một dòng xanh
Làm con nước chạm thành sóng nhỏ
và đêm yên phổ nhạc lá cành

Từng bóng khói qua ngàn chân đước
Mây bồng bềnh thoáng hiện sao thưa
và bụi nước xoáy tròn hư ảo
Hư ảo trời hư ào hồ khuya.

Hồ Tôm, 1973
CÁT SỸ

HỒ NÚI ĐẤT XƯA.

Cuối trời mây lửng lơ qua.
Nồm đưa con bấc phong ba xa ngàn.
Hồ Tôm, Núi Đất, Bưng Ngang.
Giếng Thầy, Xóm Rẫy bàng hoàng mong mưa.

Khói chiều vương khóm lau thưa.
Thanh trà tròn quả đong đưa bên rừng.
Trái mây hồng ửng triền bưng.
Dăm con bói cá như ngừng cánh bay.

Có ai trỉa lúa trăm ngày.
Hạt Ba Thăng ủ mọng đầy non xa.
Nước ngầm dưới bóng mùa hoa.
Nước tràn Láng Đá nước qua đồng chiều.

Rễ rừng hạt đất chắt chiu.
Bao nhiêu giọt nước bấy nhiêu mùa vàng.
Mặt Hồ Núi Đất mênh mang
Lặng thinh soi bóng mây ngàn phân vân.

Hoa dầu từng cánh bâng khuâng
để bằng lăng tím bao lần vương hương.
Con chim về hót cuối truông.
Núi Tà Cú khuất trong sương mờ dần.

Khói lam chiều Ngảnh Tam Tân.
Vương vương sợi nhớ theo tầng mây xa.
Một dòng xanh, đôi bờ hoa
Đem hương rừng vắng về qua đất chờ.

Đem vào ta cả hồn thơ.
Để ta thầm hát ru bờ quê hương.

Hồ Núi Đất, 1994
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

MẶT HỒ

Đồi xa cây xác xơ thu.
Mặt gương hồ lắng cỏi u minh này.
Điệu buồn rót mỏi trên tay.
Mưa rơi xóm hạ vắn dài mái rêu.

ĐOÀN THUẬN

*
HỒ NÚI

CHIẾC LÁ

Cây thu thả chiếc lá vàng
xuống hồ Núi Đất, bên ngàn Rừng Dong.
Sương pha, gió nhẹ, nước trong.
Lá men Bến Cỏ vào dòng Suối Sâu.

Con chim bói cá cúi đầu
thương duyên lá thắm phai màu tình xanh.
Nghiêng nhìn bóng nước long lanh
soi buồn lá ướt vượt gành rêu rong.

Giã từ Núi Đất Rừng Dong
Thân tàn phận úa phiêu bồng về đâu ?
Đồi Sầm Động Dứa Bãi Dâu
Phong lan cúc dại như sầu biệt ly.

Hồ Núi Đất, 1972

HỒ NÚI

TỨ LA.

Bè tre lướt nhẹ qua hồ,
dưới chân Núi Đất, bên bờ Rừng Dong.

Một vùng như thể tĩnh không.
Như tranh thủy mặc, nước lồng bóng mây.
Nghe xa tu hú gọi bầy,
Cùng âm gõ kiến, tiếng chày cuối truông.

Gió ru dăm cánh hoa muồng.
Hồn nhiên buông thả ngọn nguồn thu phong
Sương pha trắng giữa mênh mông.
Lá men Bến Cỏ vào dòng Suối Sâu.

Con chim bói cá cúi đầu.
Thương duyên lá thắm phai màu tình xanh.
Nghiêng nhìn bóng nước long lanh
Soi buồn lá ướt vượt gành rêu rong.

Giã từ Núi Đất Rừng Dong
Thân tàn phận úa phiêu bồng về đâu ?
Đồi Sầm, Động Dứa, Bãi Dâu.
Phong lan cúc dại úa sầu vấn vương.

Tứ La, bốn bạn tha hương,
nhịp bè hát khúc Trúc Phương, “Đò chiều”.
Giữa hồ Núi Đất quạnh hiu,
nhớ đêm La Dạ, nhớ chiều La Gi.

La Gàn nhớ bóng chim di.
La Ngâu nhớ đảo Thiên Y, Hòn Bà.
Núi Ông tọa Đức Linh xa,
Sông Dinh nối cảnh “ly gia” biển trời.

Tứ La tưởng nghĩ không lời.
Lòng thầm cảm tạ đất trời quê hương.

Hồ Núi Đất, 1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

.

^trở về đầu chương tđt
<<về trang chủ

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu