Thơ Đoàn Thuận

.

.

tranh của


MỘT MÁI NHÀ
___________________________
Đoàn Thuận

Khi tôi ở trong khu tập thể C3 Hàm Tân, Bác Năm Lá vào hỏi thăm  về chuuyện sinh sống của tôi, vì Bác biết trước đó tôi đã chuyển qua làm thợ hồ, theo Ba tôi đi xây dựng nhà cửa, giờ không nhà không cửa.Thật ra, nhà ba tôi cũng là nhà của tôi, nhưng sau tháng Tư năm 1975, cháu của ba tôi từ miền Bắc về tạm trú khá đông. Tôi ra riêng, mua nhà ông Huệ, nhưng nhà này lại thuộc diện “đi kinh tế mới”, nên tôi phải trả nhà cho ban Quản lý Nhà Đất, theo qui định, rồi lên C3 Hàm Tân, phụ trách lao động, nếu không phải đi kinh tế mới. Thấy thế, lúc đầu Bác Năm bảo tôi vào ở chung vì Bác thường xuyên ở trên rẫy. Nhưng rồi, Bác mua nhà của Bác Năm Mạnh và nhượng lại căn nhà của Bác cho tôi với giá hạ, gần như cho không. Tôi thầm biết ơn Bác đã giúp tôi có một Mái Nhà.

          Bác Năm Lá là người bản địa, có dòng họ làm vườn làm rẫy lâu đời ở Thôn Dâu, trên Đồi Gió. Ba tôi quen với Bác Năm từ thời tản cư.  Khi về dạy ở Trung học Bình Tuy, đôi lần tôi vào thăm Bác, khi ghé ăn bánh ướt tại nhà Bác Năm Mạnh.  Ngôi nhà của Bác, nhượng lại cho tôi, nẳm giữa một khu nhà vườn rất yên tĩnh. Chung quanh là nhà Bác Kích, Chú Tư Liên, Chị Hai On, Anh Năm Bình. Về đây, chúng tôi như nương tựa vào sự đùm bọc của thôn xóm.  Tôi cũng gặp lại nhiều bạn trẻ, đã từng ở dưới mái trường trung học Bình Tuy, mà tôi tưởng đã phân ly vì hai nền giáo dục khác biệt, nhất là nhóm thư sinh Huỳnh Thanh Trúc, dù tôi không còn dạy Anh văn như ngày xưa nữa.          .                            

             Tại dây, cuộc sống của chúng tôi dễ chịu hơn. Phần đất sau nhà, chúng tôi trồng mướp, trồng bầu, trồng rau muống hột. Trước nhà, dưới ánh đèn đêm, chúng tôi đúc bia mộ, theo đơn đặt hàng của bà con trong huyện, hay đan lác, gia công hàng mỹ nghệ. Ngoài ra, Bác Năm Lá giành cho tôi một lô đất khá rộng, ở Suối Đĩa, để trồng khoai lang.  Gần như, đây là nguồn sống chính của chúng tôi. Dù vợ chồng chúng tôi đều làm việc trong trường, nhưng lương rất thấp. Khác trước năm 1975, với lương chính ngạch, tôi nuôi đủ một vợ ba con, trong một gia đình đầm ấm yên vui. Tiền dạy thêm, ở các trường tư, tôi phụ ba tôi mua đất, xây một nhà lầu, trước chùa Quảng Đức. Đi lại, tôi có một Lambretta đời mới. Giải trí trong nhà, tôi có dàn Akai với trên một trăm băng ma-nhê đủ loại nhạc. Nghiên cứu giảng dạy, tôi có vạn quyển sách quí, được tích lủy suốt thập kỷ 60, ở Saigon. Giờ, tôi chỉ có vài cánh lan rừng , dăm chậu mai, chậu nguyệt quế.

        Dưới mái nhà này, tôi lưu giữ vài kỷ vật gắn bó với cuộc đời của chúng tôi.
+  Nhà Bác Năm Lá được sửa lại, nhưng vẫn giữ “nền cũ tường xưa” và cửa sổ mặt tiền, chỉ thay mái tôn xuôi bằng hai mái ngói đỏ. Tôi muốn lưu lại dấu tích ngôi nhà của Bác, dù có thiết kế kiến trúc một biệt thự vườn rất đẹp.
+  Một bộ sa-long cổ, bằng gõ đỏ.Vật kỷ niệm của Ba tôi, khi buôn cây với Nhật Bản, ở Lagi, thời Pháp thuộc.
+  Một tủ kính bằng săng-đá.  Má tôi dùng đựng vải, khi mở tiệm may ở Láng Găng, vào năm 1958. Tôi sửa lại để cất những bức tượng nhỏ, do tôi tạc về Cha Mẹ tôi, bằng rễ cây hay đá xanh, nhặt từ huyệt mộ của Cha tôi, khi hốt cốt vào năm 1972, và một bộ tách trà cổ, vài album ảnh của họ hàng, với mấy quyển tùy bút bằng văn vần của tôi.
+  Một khuôn hình bằng gỗ quí do Bác Tu ở làng Phò Trì tặng Mẹ tôi vào năm 1960. Khi Mẹ qua đời, tôi dùng khuôn hình này để lộng ảnh Mẹ.
+  Một bức tranh sơn dầu họa chân dung Thoa, do Nguyễn Thế Cường vẽ tặng vào năm 1972, khi chúng tôi từ Hà Tiên về Bình Tuy, ghé thăm gia đình Cường tại Saigon. Cường là bạn thân của chúng tôi, thời học đại học.
+  Một bàn viết mặt mê-ca dày, mang nhãn “Blue Boston”, do trường Trung học Bình Tuy tặng vào tháng 10 năm 1972, khi tôi về dạy học nơi quê nhà La Gi.

Đây là ngôi nhà riêng của chúng tôi, sau nhiều năm đi dạy, kể từ 1965.

Tân An,1980
ĐOÀN THUẬN

.

MỘT NẾP NHÀ

Khi chúng tôi về đây
mái tôn sậm màu sét rỉ
nền đất mối xông nứt nẻ tháng ngày
từ đời nghèo chung những bàn tay
xây một nếp nhà
phác thảo những mùa hoa.

Nhà ngói đỏ tường cao
trong vuờn cây ăn quả
nắng sớm phương đông soi hồng khung cửa
đêm tịnh yên thơm thoảng hương trời
gió bâc hiu hiu từ vụng biển
mưa nồm nghiêng những nốt nhạc rơi.

Bạn cũ một thời vắng xa
nên hiên trước đôi khi đầy rêu biếc
và một sân hoa
cội mai vàng nghiêng bên khóm trúc
đàn trẻ nhỏ vui ca.

Chúng tôi quẩn quanh trên đồi xanh Tân An
đời yên hàn ấm áp một niềm tin
đêm soạn bài ngày lên lớp trường bên
tranh thủ sống nhờ bàn tay thợ
đúc bia mộ phụ hồ gia công hàng mỹ nghệ
trồng hoa cây kiểng thêm ít rau màu
buồn vui có nhau nương náu bên đời .

Chúng tôi sống nơi đây đã nhiều năm
Mẹ và Thầy vào cõi xa xăm
Theo mùa hoa nếp nhà thêm hương mới
Sự sống đâu hạn kỳ trăm năm.

 La Gi,1980
ĐOAN THUẬN

DƯỚI  MÁI XƯA

Nhà xưa còn nguyên vùng ký ức
dù đã khuất vào xuân xanh
mái cành nôm liếp lá thưa
ngày bấc lạnh.

Bao mùa đi qua cánh đồng trước ngõ
ta mót lượm gié lúa bỏ quên trong đời
nghe tiếng hát mùa xa thơm mùi rơm rạ
lời ca dao còn đọng tháng năm.

Một con thuyền ngủ xa xăm
dưới bờ cây những mùa mưa nắng
người giặt áo bên sông, lặng thầm về đâu
tiếng cười rung bóng nước
chiều lắng buồn sông sâu.

Ta về đây một ngày hoa cúc
buồn vui thinh không như hương cỏ lau
khi được ngủ quên bên thềm trăng cũ
mây trắng bay cao niềm xưa gió thoảng.

Đường thôn hoa dại nở đầy.
đâu cần nhớ chi mấy mùa lưu lạc
hương trời đâu đây.

ĐOÀN THUẬN

LIỄU XƯA

Vẫn nghe tiếng biển rì rào
đưa con sóng biếc chạy vào bờ xa.
Liễu xưa mẹ hát la đà
ru tôi vào giấc ngủ hoa yên lành.

Vẫn nghe từ khoảng trời xanh,
vi vu diều sáo thuở thanh bình nào.
Tuổi thơ hồn thả bay cao.
Lời đồng dao cũ nghêu ngao trên đồi.

Vẫn nghe dòng suối bồi hồi
như tình em đó một đời tôi yêu.
Khúc dân ca lắng trong chiều.
Suối ơi, suối chảy bao nhiêu bến bờ.
Một lần cho tôi ước mơ.

Một lần cho tôi vần thơ.
Thơ ơi, vàng bướm bao giờ Mái Xưa.

ĐOÀN THUẬN

BÊN CỘI TRÚC.

1.
Các con hãy đi đến mùa măng bên cội trúc
hát xanh những rừng lá biếc
đời chưa hẳn là bài thơ vui
nhưng đất cũ quê xưa còn bao điều khắc cốt.

Trên những nẻo đường nắng mưa
có bóng cha ông khòm lưng lên giọt mồ hôi
qua những mùa bấc thổi.

Dưới bóng hoa rơi
thêm bao mùa tàn nở
tiếng nấc cõi người
làm hạnh phúc chơi vơi.

Hoa không tươi mãi
đời vui không thể dài
hãy thật với lòng mình
để hương không phai

Các con hãy thức trước bình minh
để thấy sự lụi tàn của bóng tối
nơi chân trời.

Ngày mới xua tan đêm đen
nhưng ánh sáng luôn mang bóng tối
trước lửa, bóng núp sau ta không tên tuổi
lửa ra đi khi tro tàn lạnh lẽo
hãy thắp sáng niềm tin
để sự thật không còn u ám.

Ngày không dài như đêm
ngày chưa hết hoàng hôn đã xuống
nhưng mỗi người còn một trái tim
nhịp đều trong lồng ngực
làm nên sự sống của thời gian.

2.
Hãy đứng thẳng trước núi
nhưng mềm mại như sông
chỉ có nước mới lấp đầy mênh mông.

ĐOÀN THUẬN

TIẾNG CHIM KHÁCH

Chim khách gọi chiều
xua vạt nắng mờ dần thôn dâu,
ta ngỡ bạn cũ
về thăm vườn thơm bỏ hoang từ lâu.

Bao mùa bão rớt đi qua hàng dậu
thu muộn úa màu
nát nhàu hoa râm bụt
lối nhỏ lá khô lùa lao xao.

Ta chờ nghe
tiếng chân ai dừng yên bên cổng khép,
gót hài nhỏ nhẹ trên lớp gạch rêu xanh,
hương tóc chạm vào nỗi nhớ lặng lẽ,
ngoài hiên êm, hạt sương gieo buồn tênh

DƯỚI MÁI RÊU

Ta về lợp lại mái rêu,
nghe hương đất cũ ngoài lều gió mây,
bụi tro lạnh phủ bao ngày.

Một đời làm thợ làm thầy,
nay xin làm bộ lấy ngày làm đêm,
làm thinh cho lặng lẽ thêm.

La Gi,2003
Đoàn Thuận

trở về đầu chương tđt
<<về trang chủ

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu