*
Đoàn Thuận vào đời tại làng Tân Lý, nơi Cha ông làm lý trưởng một thời. Trong ký ức bé thơ của ông, nơi ông sinh ra là một ngôi nhà cổ với tường vôi trắng mái ngói đỏ trong vườn cây ăn quả và nhìn ra hướng mặt trời mọc. .
Trong vườn cây lâu năm. .
Nhà Mẹ hướng ra mặt trời mọc .
Một cây nguyệt quế thơm.
Năm 1946, Pháp nhảy dù xuống Đồi Dương, chiếm ngôi nhà làm đồn lính trấn giữ một vùng rừng biển mênh mông. Dân làng táo tác tản cư vào Láng Đá, trốn sâu vào rừng Dinh Thầy và Cha ông đã qua đời trong năm loạn ly ấy. Từ đó, ông xa Mẹ xa làng theo Cô Dượng trôi dạt về phía nam La Gi. Cũng từ đó, ông như một du tử, một đứa con đi xa luôn nhớ mong về quê nhà. .
Có lẽ phận đời tôi phải như thế .
Vừa lọt lòng Mẹ, đã xa Mẹ, lưu lạc bên trời .
Chiến tranh đi qua bể dâu đời ly tán. .
Cha muộn phiền khuất núi về xa xôi.
Suốt chín năm tản cư, tuổi thơ ông trôi dài qua bưng tràm Động Chú, rừng già Sao Cháy, nương rẫy Phò Trì, ruộng vườn Cù My, xóm chài Bến Lội, Suối Muồng trong xanh, Bãi Tàu cát trắng, Bàu Sen thơm hương …
Ngày ấu thơ trôi theo những cánh rừng
Lá thu rụng vàng phía sau lưng
Tôi đâu dám ngoái nhìn đôi xóm mạc
Đâu thể quên cuộc chia tay nơi miền bưng
Lủi thủi qua ngang nhà ai bến lau thưa
Lời đồng dao miên man miền núi xưa
Mái cành nôm đong đưa ru nhịp võng
Lòng tôi buồn nhìn tím sắc hoa mua.
. Năm 1954, Ba Nuôi ông về Cái Bè nhận ngôi nhà của dòng họ để lại và định ở tại đây lâu dài. Dù được dưỡng nuôi đùm bọc trong tình thương của cô dượng mà ông yêu quí như ba má, ông vẫn không quên được những ngày ấu thơ bên Mẹ. Ngay sau đó, ông về lại Tân Lý tìm thăm mẹ. Chiến tranh đi qua, họ hàng ly tán, ngôi nhà xưa thành đống gạch vụn. Mẹ ông ở nhờ nhà một người dì, đào chang chép hái sâm cát, sống qua ngày.
Ông xin phép Ba Má ở lại Tân Lý một thời gian, chăn trâu mướn để phụ Mẹ dựng căn nhà lá trên nền cũ đất xưa.
Lưu lạc bao năm con về đây.
Thương biết bao nhiêu dáng Mẹ gầy.
Mái lá nghiêng che đời khốn khổ.
Tóc Mẹ ngày nào trắng như mây.
Gió bấc lạnh đầy sau liếp thưa
Chăn đơn áo vải cho qua mùa
Bếp chiều quạnh quẽ thêm tro bụi
Than củi vô tình trước nắng mưa.
Mẹ đón con về bên bờ hoa.
Thương con thơ dại mắt lệ nhòa.
Nước trầu đỏ quệt ngang tiếng khóc.
Thấm tận hồn con nỗi xót xa.
Cuối năm 1955, Ba ông bị bắt bị đày ra Côn Đảo. Má ông quay về Bình Châu làm thợ may sống cô độc qua ngày. Ông đành từ biệt Mẹ ra đi, về lại xóm nghèo Láng Găng. Một lần nữa, ông như một du tử trôi nổi theo dòng đời.
Chưa kịp về tạ ơn khi Ngoại đau
Lại giã từ quê hương, thương Mẹ bạc mái đầu
Đường đời mải miết bao bờ bến
Những dòng sông, con phố, những chuyến tàu.
Nhiều năm sau, Má ông về La Gi, còn ông tìm mọi cách lên tỉnh vào thành để tiếp tục con đường học vấn. Ông làm nhiều việc, xuôi ngược nhiều nơi và càng lúc càng xa thêm quê mẹ, càng trôi dạt về phương Nam. Từ Bình Châu ông lên Bà Rịa học đệ thất đệ lục, vào Saigon học đệ ngũ đệ tứ, quay về Bà Rịa theo ban tú tài, lại vào
Saigon học Đại học Văn Khoa, Đại học Sư phạm.
Tôi vắt kiệt tuổi thơ khờ khạo kiếm sống .
Đánh đổi từng giọt mồ hôi nuôi nấng ước mơ .
Cạn khô nước mắt bao đêm thầm nhớ Mẹ .
Quay quắt qua ngày lủi thủi trên dặm đường xa .
Đôi khi co ro sân ga đêm, thẫn thờ bến đò muộn
Dù chẳng có ai để chia tay, để mong chờ .
Đường ray sắt vào âm u, còi tàu nghe xa hút .
Tiếng gọi đò từ muôn xưa vang vọng mơ hồ.
Năm 1969, ra trường, ông lập gia đình và nhận nhiệm sở
Hà Tiên, miền biển cuối đất nước, biệt mù quê nhà. Hà Tiên cũng
là quê mẹ của thi sỹ Đông Hồ, của du tử Lâm Tấn Phát. Khi đến đây, ông cùng Nhóm thân hữu Hà Tiên tổ chức giỗ đầu cho Đông Hồ,
dù gia đình Thi Sỹ vẫn sống nơi đất Saigon. Còn du tử Trần văn Thuận xa quê mẹ La Gi tha phương đến đây cầu thực. Thập cảnh Hà Tiên
thơ mộng không làm ông nguôi nhớ “La Gi ngàn xanh” của ông.
La Gi xa ngàn dặm lí. .
cuối nơi mây trắng bay về .
ngút mắt ngóng tìm làng cũ .
chìm trong khói sóng chiều quê.
Và càng làm ông nhớ Mẹ da diết. .
Ta nhớ hoài dáng Mẹ, .
Gầy guộc chiều bên nương ..
Tóc trắng bù trong gió .
Còn ta giờ tha phương. .
Năm 1973, ông chuyển nhiệm sở về Bình Tuy để sống gần Mẹ, gần
Ba Má. Trong năm này, ông đưa hài cốt Cha ruột từ gò Bà Nghèo
về đất thánh Tân Lý, yên nghỉ bên cạnh ông bà nội. Tiếp theo,
ông mua đất ở Tân An và dựng một “ngôi nhà với tường vôi trắng
mái ngói đỏ trong vườn cây ăn quả “mang hình ảnh ngôi nhà của
Cha Mẹ ở làng Tân Lý xưa mà chiến tranh đã làm vỡ tan trong
miền ký ức: .
Ngôi nhà Mẹ ánh lửa bếp chiều ấm ký ức hoang vu
ngói âm dương vỡ tan những mảnh vụn kỷ niệm .
âm thanh ngói rơi xuống tuổi thơ lời ru xưa.
Tiếng ngói đổ chạm đáy hồn người tha phương. .
giọt trầu đỏ quệt ngang thềm phố cổ mùa đông. .
dội lên màu khói lửa nhức nhối tâm tư cô đơn.
Năm 2003, khi nghỉ hưu, ông bán ngôi nhà cổ ở Tân An, lấy tiền tu sửa, xây kiên cố gần như toàn bộ mồ mả của ông bà nội ngoại,
cha mẹ, ba má và người thân tại đất thánh Tân Lý, nghĩa trang Tân An và một số mồ hoang bỏ quên nơi Động Chú, Suối Cát, Sao Cháy.
Làng Tân Lý là quê Ngoại, nơi chôn cất bao hài cốt của tổ tiên từ đất Quảng về đây dựng làng lập nghiệp. Vườn cây ăn quả trên đồi Tân An là khu vườn của bác Năm Lá nhượng lại, là nơi tiêu biểu cho vùng đất khai hoang của bao họ tộc, cũng là nơi ông lưu giữ một ít đá cổ ở đất La Gi dưới dạng những bức tượng do ông tạc nên. Do đó, ngôi nhà ngói cũ trong khu vườn ấy như nơi thờ tự, cũng là nơi vương vấn biết bao kỷ niệm của gia đình ông. .
Tôi ngồi trước án thư hư mọt, .
nơi ánh đèn trang sách vợ con tôi, .
bao mùa học một thời. .
mơ một mùa hoa mới.
Vách sờn còn treo tờ thư pháp, .
một câu thơ bỏ quên, .
trên tượng đá lặng yên, .
khuôn mặt vàng bụi phủ.
Bao ngày mái xưa buồn vui thức ngủ, .
nay dưới bóng trăng tà, .
sương thấm lạnh thềm hoa, .
tôi nghe ấm một đêm tình đất Mẹ.
Năm 2007, ông từ giã tất cả, về sống với người con trai Út ở
Thủ Đức. Cuối đời, ông vẫn như một du tử biệt xứ ra đi, dù rằng
Mẹ không còn tựa cửa mỏi mòn mong ngóng đứa con rong chơi
cùng cát bụi. .
cuối đời biệt xứ ra đi .
hồn thiêng đất mẹ đạo nghì trên lưng .
nỗi oan thả gió qua rừng.
giờ nơi phố lạ người dưng .
bạc phơ mái tóc chưa ngừng lãng du .
lần mò về cõi thiên thu. .
Sài Gòn xưa là miền đất trọ cũ. Về đây,du tử lần mò hỏi thặm những người bạn thời hoa niên, những người đồng song đồng nghiệp đồng hành thời ly loạn. Tất cả như xa lạ, như khuất sâu trong ký ức u buồn. Còn chăng chỉ là vài nhóm thân hữu già nua phiêu bạt muôn nơi trên không gian mạng. .
Tôi về đất trọ qua mùa. .
Tàn tro hương lửa thẹn thùa hôm mai. .
Miên man hoa nở hoa phai. .
Thu sang lá rụng, đông cài giá băng. .
Du tử Đoàn Thuận,vĩnh viễn xa Mẹ,lặng thầm rong chơi qua miền ký ức buồn vui của ông. .
Thảo Điền, 2012 ..
TRẦN CÁT TƯỜNG
.*
tranh của EVELINE
.
từ TRANG VIẾT.3
> về trang chủ.
.

