*
ĐOÀN THUẬN
một gia sư
Sân trường
Đại học Sư Phạm Sài Gòn
1964
.
Sau ngày đình chiến, trai trẻ nơi làng quê đa số thất học.
Dân làng, người góp của kẻ góp công, lập ra những lớp học bỏ túi
đến tận những xóm nghèo xa xôi hẻo lánh giúp trẻ em có điều kiện
học tập.Tại làng Tân Lý, các cụ già nhờ những người biết chữ như
ông kèm chữ cho những người nghèo khổ mù chữ.
Thời thơ ấu, bị buộc đi kèm chữ. .
Bạn chăn trâu cùng học lớp ven sông .
“Thầy”bé nhỏ hơn những người đi học. .
Mới vừa qua tiểu học, bậc vỡ lòng.
Người biết một kèm người chưa biết một .
Bài học đầu ngượng nghịu giọng ê a. .
Cả lũ khoái cười lăn ra bãi cỏ .
Tôi giật mình xấu hổ bỏ đi xa.
Ông đã chập chững bước vào con đường kèm trẻ từ buổi dại khờ và tự nhận ra mình còn kém cỏi, cần phải học tập nhiều điều, dù ông rất mong muốn giúp những người bạn nghèo cùng lứa tuổi biết chữ. Do vậy, ông rời quê lên phố tìm việc làm để tiếp tục con đường học vấn. Nhiều dịp may đã giúp ông quay về công việc kèm chữ bỏ dở
nơi quê nhà, thực hiện mong ước của một thời bé con.
Hơn mười năm xa quê tìm thầy học .
Con nhà nghèo trọ học xóm kênh đen .
Sáng đến lớp, tối chiều đi kèm trẻ .
Viên phấn cầm trước bảng viết chưa quen.
Lúc đầu, một số nhà giàu thuê ông kèm cặp những trẻ học năm đầu bậc tiểu học. Về sau, ông kèm cả toán lý hóa cho học sinh ở lớp cao hơn.
Học đệ tứ cả gan kèm đệ lục
Soạn kỹ bài từng buổi làm gia sư
Cô bé hiền quên mất mình xinh đẹp
Ngưỡng mộ thầy chăm chỉ học vô tư.
Từ đó, ông được nhiều người biết đến như một gia sư chuyên luyện thi tú tài, thi tuyển vào đại học và đôi khi dạy ngoại ngữ cho
học sinh chuẩn bị du học.
Năm 1964, Nha Tư thục cấp giấy phép cho ông dạy tư và đã dạy tại nhiều tư thục ở Sài Gòn. Dù vậy, ông vẫn duy trì một số buổi dạy miễn phí ở gia đình vì ân nghĩa, vì muốn giúp đỡ học sinh nghèo, đặc biệt đối với một số người nghèo hoãn dịch muốn lấy tú tài. .
Và như thế, mấy năm trời đại học,
sinh viên nghèo dạy thêm các trường tư
vào Sư phạm tu luyện nghề đi dạy
vì biết mình chưa thoát phận gia sư.
Năm 1969, Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, chính thức vào ngạch giáo sư trung học, gần như ông không còn là một gia sư đi kèm chữ kèm trẻ tại tư gia của người đi học, nhưng lại dành khá nhiều thời gian dạy thêm miễn phí cho học sinh nghèo,tại nhà riêng
của ông. Đồng nghiệp và phụ huynh thân quen gọi đùa ông là gia sư phụ vì ông đầu tư khá nhiều công sức cho việc dạy phụ ở nhà ngoài việc dạy chính ở trường.
Năm 1975, sau khi học tập cải tạo, ông được trả quyền công dân, thuộc loại giáo viên lưu dung về trường cũ hướng dẫn học sinh lao động và dạy tiếng Anh ở vài lớp. Chương trình giáo dục gần như
xa lạ với ông, nặng về chính trị, nhẹ về khoa học. Dạy tốt học tốt thay phương châm tiên học lễ hậu học văn. Cả nước rập khuôn một giáo án gồm 5 bước lên lớp. Người dạy học không được quyền soạn bài theo cách riêng, phải thực hiện nghiêm mọi sự lãnh chỉ đạo của cấp trên.
Ông tự nhận thấy ông không đủ khả năng và không phù hợp
với môi trường giáo dục mới. Nhiều lần ông xin ra khỏi ngành nhưng không được chấp nhận. Ông chỉ ở lại vì tấm lòng yêu trẻ. . .
Cũng có lúc muốn đi tứ xứ .
để học thêm nhiều ít ở cuộc đời .
nhưng mắt trẻ cứ kéo tôi về lớp .
tiếng học bài như sóng vỗ trong tôi.
Trong nhiều năm, ban ngày ông đến trường làm việc, đêm về làm thợ hồ, đúc bia mộ, nối nghiệp của Ba ông. Đây là nguồn sống chính của gia đình trong thời bao cấp. Ông như một người thợ hơn là một người thầy. . .
Tranh thủ sống nhờ bàn tay thợ .
Đúc bia mộ, phụ hồ, gia công hàng mỹ nghệ.
Trồng hoa cây kiểng, thêm ít rau màu.
Buồn vui có nhau nương náu bên đời.
Lên lớp dạy như đi lao động, dù viết chữ trên bảng đen hay
nói một điều gì phải đúng với mục đích yêu cầu ghi trong giáo án.
Ông như một người tập sự vụng về dù đã đứng trên bục giảng
nhiều năm. .
Đã bao năm nhiều lần lên lớp dạy,
vẫn thấy mình còn lắm vụng về
chưa nói được những điều muốn nói
nên trở về buồn lặng trong mê..
Trong khi những người thợ hồ, những trai làng nghèo khổ bỏ dở việc học, đâu cần giáo án mà rất cần kiến thức khoa học và vốn ngoại ngữ để đổi đời. Biết bao trẻ nghèo lam lũ theo gia đình đi kinh tế mới, bỏ nhà bỏ đất, đâu được đến trường. Ông rất muốn trở lại công việc kèm trẻ trước kia nhưng không được phép và ông chẳng làm gì giúp ích em thơ.
Nhưng rồi một cán bộ cấp cao ở tỉnh, biết ông từng làm gia sư,
đã nhờ ông luyện thi vào đại học cho hai đứa cháu ở La Gi. Nhân việc này, ông mở những buổi phụ đạo miễn phí cho học sinh nghèo tại nhà riêng của ông ở Tân An. Dù bị cấm dạy thêm nhưng gia sư vẫn tồn tại đến ngày về hưu nhờ điểm miễn phí và nhờ sự hỗ trợ của vị cán bộ
nói trên. .
Quãng đời gia sư của ông khá dài, gần như suốt cuộc đời ông, từ khi kèm chữ nơi lớp học ven sông ở làng Tân Lý đến lúc đóng cửa lớp phụ đạo miễn phí trong nhà riêng ở phường Tân An, vào những ngày cuối đời. Quãng đời ấy trải qua bao thăng trầm. Nhiều lúc ông buộc phải từ bỏ nó, nhưng cũng nhiều dịp may bất ngờ khiến ông quay lại con đường cũ. Đời gia sư như một số phận đối với ông. Dù sao nó đã giúp ông thực hiện được ước mơ thời thơ ấu: Tiếp tục con đường học vấn và giúp bạn nghèo đi học.
Con đường ấy đã bị phân ra thành hai cảnh đời khác nhau trước và sau 1975.
Trước 1975, người học tự mình gắng sức học hành để thành người tài đức giúp ích cho xã hội. Người học không chỉ học chữ mà còn phải học nghĩa, phải học lễ trước học văn. Người dạy chỉ gợi mở, hướng dẫn phương pháp để người học tiếp cận với kiến thức của loài người. Vì vậy, với tư cách một gia sư, ông luôn tham khảo nhiều tài liệu, soạn bài kỹ cho phù hợp với yêu cầu, với trình độ của người học.
Sau 1975, mọi việc đều được chỉ đạo, có sẵn khuôn mẫu, người dạy người học răm rắp theo khuôn là đạt yêu cầu. Học sinh được xếp theo nhiều loại ưu tiên. Học sinh ưu tiên 1 có điểm thấp vẫn được vào đại học, trong khi đó học sinh loại bét phải cần rất nhiều điểm. Như thế, một kẻ dốt nát, có trình độ lớp ba lớp bảy, bỗng chốc thành ông tiến sỹ, thành nhà lãnh đạo có toàn quyền áp chế người thấp cổ bé miệng và cả những bậc hiền tài. Trong bối cảnh ấy, ông từ một giáo sư trung học trở thành một giáo viên lưu dung có thể chép giáo án của giáo viên chi viện để lên lớp. Ông như người giúp việc cho lãnh đạo giáo dục, sai đâu làm đó.
Sau giải phóng, tôi như một phu chữ .
Bởi tìm đâu ẩn số một tâm hồn .
Khi chữ nghĩa đảo điên đời trong đục .
Thú và Người lẫn lộn điều dại khôn.
Ngày về hưu, ông như cụ đồ già. .
Đôi khi ta muốn tìm một đệ tử .
Theo kiểu cụ đồ xưa .
Để truyền dăm ba chữ .
Dạy một thế võ .
Dặn đôi điều nắng mưa.
Nhưng nhịp đời không cùng nhịp trái tim .
Một đô la có lắm người xu phụ.
Ta về gõ cửa đền đài mơ ước .
Tự biết mình ngu ngơ.
Vì thực tế, ngoài chợ đời “đồng tiền ngự trị trên mọi lương tâm”. Học đường là thương trường, là nơi trò phản thầy vì bằng cấp bán mua. Đường đời đầy giông tố xô giạt người lương thiện vào góc khuất.
Người học cũ giờ đây về trăm ngả .
Người khốn cùng, kẻ phú quí vinh hoa .
Cuộc đời rộng. ai cũng thầy ta được .
Xin lui về kèm trẻ chính đời ta.
Gia sư Đoàn Thuận lui về vườn cũ mái xưa kèm trẻ chính mình để giữ Đạo Nghì ngàn năm của tổ tiên.
Thảo Điền, 2014 .
TRẦN CÁT TƯỜNG.
.
.Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn.
.
