trang viết

.

,
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
.

tranh của Samuel Palmer
.

.

ĐOÀN THUẬN
RONG CHƠI cùng CON CHỮ

                Xa Mẹ nơi “mái xưa, xa “La Gi ngàn xanh” từ thuở bé thơ, Đoàn Thuận như một du tử ”rong chơi cùng cát bụi”,  qua những “Mùa bấc biển”,Mùa thạch thảo”,
“Mùa trọ học “….

              “Dưới bóng mây“, trong “khoảng lặng của hoa”, bên bếp “lửa đêm mưa”,trước ánh “lửa đầu non”, Du Tử nhờ Con Chữ ghi lại “lời chiều”
và “những điều nghe thấy”  theo bước đường rong chơi qua cõi tạm.

             Dưới mái trường, từ dòng phấn trắng trên bảng đen và dòng mực màu trên mảnh giấy cũ, đến vệt bụi trên trang sách cổ, Con Chữ lưu lại
vết tích đậm nhạt của “sắc phương” cùng  tia sáng trong tâm trí, giúp Du Tử tìm đường về chân thiện mỹ, dù còn mê muội tối tăm.

“ Con chữ dẫn dắt thời trai trẻ qua khắp sân trường.      .
Qua cảnh hoang vu rừng núi, nơi đô hội phố phường
Đánh thức cõi mộng hồn u mê tăm tối,                       .
Dò dẫm đường về chân lý dù đắng cay đau thương ”.

               Con Chữ ấy có thể là những chữ cái trên trang vở học trò đầu đời, cũng có thể là con số trên tấm mo cau ngày chăn trâu nghèo đói,
có thể là một dấu hỏi trên chiếc lá khô, một nét thư pháp trên tờ giấy dó, hoặc đôi dòng mực xanh trên trang lưu bút của thân hữu trong tháng ngày tha phương .

              Trên hết, Con Chữ thay lời “Tạ ơn đời” của Du Tử về cuộc rong chơi đã qua.

” Tạ ơn trời đất núi sông.                               .
Cho tôi xuôi ngược chơi rong một thời.               .
Tạ ơn Mẹ, tạ ơn đời “.

 Thảo Điền,2014
TRẦN CÁT TƯỜNG

 

DU TỬ

CON CHỮ

Bao mùa ở trọ đó đây.
Phò Trì Xóm Rẫy những ngày bé thơ.
Nghe chim xanh hót trăng mờ.
Nhìn đồi hoa dại, thầm mơ trái rừng.

Giã tử Động Chú miền bưng.
Leo quanh Núi Nhọn, vượt từng Suối Sâu.
Tìm qua Bến Lội Bình Châu.
Trường làng tiểu học tập câu vỡ lòng.

Đi lên Bà Rịa phố đông.
Bơ vơ khờ dại giữa dòng gió sương.
Thầy cô bạn học sân trường
giúp tôi tiếp cận văn chương tú tài.

Sài Gòn tiếp bước tương lai.
Văn Khoa Sư Phạm luyện tài dưỡng tâm.
Dạy tư kèm trẻ nhiều năm.
Tập tành nghiên bút phương châm Thầy Đồ.

Ra trường về xứ Đông Hồ,
Mê âm vọng cổ bên bờ Thuận Yên.
Nơi trường trung học Hà Tiên,
đọc Chiêu Anh Các, ngẫm huyền thoại xưa.

ĐOÀN THUẬN

 

*

.
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
*
.

.

.

.

tranh của Mary Cassatt

.

CON CHỮ và  TÔI

Con chữ, ký hiệu ngôn ngữ, mang tên chữ cái rời
cùng tôi rong ruổi qua cõi người
đôi khi nằm im trên trang giấy vô nghĩa
đôi khi ghép nên câu trong đầu óc nhỏ nhoi tôi .

Chữ i tờ nguệch ngoạc ngang tuổi thơ nghèo đói
vẽ ra vành trăng khuyết ước mơ lơ lửng ven trời
ẩn hiện lờ mờ nơi trí tưởng
một mái nhà yên, một lời ru bên nôi.

Con chữ dẫn dắt thời trai trẻ tôi qua khắp sân trường
qua cảnh hoang vu rừng núi, nơi đô hội phố phường
đánh thức cõi mộng hồn u mê tăm tối
dò dẫm đường về chân lý dù đắng cay đau thương.

Con chữ lắng trong tôi, ngày xế bóng, những lời buồn
trước bao kiếp người nô lệ lầm than
khi bọn độc tài coi phận người như cỏ rác
tước đoạt mọi ước mơ, quyền sống bình an .

Bạo chúa có thể đốt sách, treo cổ người viết
nhưng không thể cầm tù ý nghĩ thoát thai từ cuộc đời
từ lời thở than thầm thì nơi góc khuất lịch sử
từ nỗi niềm riêng thân phận tôi

Gia Định, 1969
CÁT SỸ

.

.
CON CHỮ RÁCH

Mặt trang bài soạn lèm nhèm.
Trên lưng con chữ mực lem tư bề.
Sắc huyền ảo nét bút phê.
Dấu than chấm hỏi mô tê rã hàng.

Câu văn chữ nghĩa lan man.
Trang đời đen trắng trái ngang dị thường
Sân trường như chốn giao thương.
Buôn bằng bán chữ, nhiễu nhương đạo trời.

Biết bao con chữ im hơi.
Làm thân phục vụ dưới thời muội mê.
Chữ gầy chữ rách lê thê.
Đôi con chữ đói phết rê dòng buồn.

Khi nghề cao quí xa nguồn.
Giáo khoa sách sử lách luồn đổi thay.
Một con chữ đẹp buông tay.
Tự quyên sinh giữa tháng ngày thanh xuân.

CÁT SỸ

.
.

CON CHỮ “ĐAU”

Tờ thư không rõ tháng ngày.
Mờ tên người nhận, mực bay bạc màu.
Chỉ còn thấy một chữ “đau”
giữa lòng trang giấy nát nhàu chung quanh.

Thư nằm trong đám cỏ tranh.
Bên lề đường nhỏ vắng tanh bóng người.
Gần kề một khóm huệ tươi.
Chúm tròn như thể nụ cười hồn nhiên.

Chữ “đau” ẩn nghĩa ảo huyền.
Hay như “đau đớn, buồn phiền, xót xa”.
Đau vì bão tố phong ba.
Ruộng vườn tang tóc, cỏ hoa tiêu điều.

Đau vì dang dở tình yêu.
Thề nguyền ước hẹn đã phiêu du rồi.
Còn chăng nước mắt bồi hồi.
Rơi trên giấy viết với lời biệt ly.

Chữ “đau” riêng lẻ nói gì ?
Khi bao sầu não thầm thì nơi đâu,
Khi thư chẳng đủ một câu.
Im lìm dưới bụi đậm màu lãng quên.

CÁT SỸ.
.
.

*

.
.
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
*

..

.

.

.

.

.

tranh của Lukas Adami.

.
BÀN VIẾT

Chiếc bàn viết gãy một chân.
Lâu chưa sửa chữa tựa thân phế tàn.

Vài viên gạch bể kê ngang.
Chồng lên thay nạng chống bàn đỡ nghiêng.
Gạch cong nứt, chẳng còn nguyên.
Thường khi rung lắc làm phiền chủ nhân.

Người ngồi tập viết quen dần.
Dù ba chân gỗ có chân bị kiềng.
Nhưng bàn vẫn đủ bút nghiên.
Bóng đèn, trang sách, vẫn yên phận mình.

Riêng người vắng bóng gia đình.
Không nhà cửa, ghé hiên đình sống chui.
Không bàn ghế, trước buồn vui.
Đành kê giấy trắng lên đùi viết thư.

Ghế bàn nào cũng mục hư.
Chỉ cần mặt phẳng thẳng như mặt bàn.
Để ghi lại thoáng mơ màng.
Theo mùa sương khói lang thang dưới trời.

CÁT SỸ

.

.
NGỌN ĐÈN DẦU.

Thắp lên một ngọn đèn dầu.
Trong đêm tăm tối, dưới bầu trời sương.
Đồng quê xa cách phố phường.
Thôn nghèo không điện lối đường âm u.

Bao lần sao rụng trăng lu.
Ruộng vườn cây cỏ gió ru u buồn.
Bao mùa giông tố mưa tuôn.
Bờ sông vắng lặng, bến truông mịt mờ.

Ánh đèn xóm chợ lắt lơ.
Bóng con đom đóm phất phơ ngoài trời.
Nhòa vào sương khói chơi vơi.
Giấc mơ bếp lửa thoảng hơi ấm lòng.

Đèn dầu thắp sáng đêm đông.
Soi lên trang giấy trắng không một lời.
Người đi biền biệt xa khơi.
Nghiên khô gác bút, bụi rơi âm thầm.

La  Dạ, 1968
CÁT SỸ
..
.

*

.
.
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
*
.

.

.

.

.

.

.
.

tranh của Peter Tom Petersen

.
NGÒI BÚT LÁ TRE.

Cũ mèm ngòi bút lá tre.
Nằm im dưới bụi, bên khe cổng chùa.

Bao mùa sương gió nắng mưa.
Thân ten rỉ sét, đầu tưa tét cùn.
Cán cây xa cách mịt mùng.
Không còn giấy mực ở chung một thời.

Mực bơm, bút máy lên ngôi.
Viết tay nguyên tử thay đời bút bi.
Bút lông mực xạ bút chì.
Giấy hoa giấy dó đến kỳ làm thinh.
Nhường cho bàn phím màn hình.
Nhẹ tay gõ chữ, máy in ra bài.

Qua thời khăn đóng áo dài.
Thầy đồ lều chõng miệt mài bút nghiên.
Cọ tre chấm mực rẻ tiền.
Đã như yên nghỉ nơi miền lãng quên.

CÁT SỸ
.
.

..
GIỌT MỰC BUỒN

Trang thơ mực đọng giọt buồn.
Tựa màu tim tím hoa muồng tàn phai.
Loang ra một thoáng u hoài.
Hương xưa sắc cũ đã ngoài thời gian

CÁT SỸ.

 

.
GIỌT MƯA THƠ

Trong mưa có một giọt thơ.
Rơi nghiêng “lá thắm” trên tờ “tình xanh”
Lưa thưa mưa lạnh lanh tanh.
Lâm râm thơ lắng ngữ âm trầm buồn.

CÁT SỸ
.

*

.
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
*

..

.

.

.

.

.

.
.
tranh của Samuel Palmer

.
TỜ GIẤY CŨ..

Nhiều tờ giấy bị bỏ quên.
Nằm trong hộc gỗ không tên không ngày.
Ngoài trời sương gió mây bay.
Trong khay bụi bặm bám đầy mặt thư.

Lâu đời giấy má cũng nhừ.
Mù mờ ý nghĩa thực hư thế nào.
Vài hàng chữ tháo viết mau.
Mực đen giấy trắng sắc màu nhạt phai.

Thời gian lặng lẽ trôi dài.
Giấy con mọt nhấm gián nhai bèo nhèo.
Thư từ nhật ký nhăn nheo.
Công văn khế ước giao kèo tả tơi.

Đôi trang sách rách rã rời.
Vùi quên dưới bụi im hơi qua mùa.
Giữa đời còn mất hơn thua.
Vô tư tờ giấy thẹn thùa lặng yên.

CÁT SỸ
.

.
GIẤY LÁ SEN.

Chiếc lá sen khô thay giấy bao.
Ép phơi dưới nắng vàng bạc màu.
Mặt lá nhạt nhòa sắc rêu biếc.
Thân còn non nớt dần xanh xao.

Hàng rong bán dạo, gánh loanh quanh.
Lá làm giấy gói xôi đậu nành,
bao quanh bó rau, xấp trầu tía,
bọc túm thuốc rê, gói trà xanh.

Lá như giấy dó của cụ đồ.
ghi câu đối đỏ nét chữ thô,
khắc dòng thư pháp kiểu Việt Hán,
ký tên lưu dấu buổi dại khờ .

Lá sen từ đầm vào chợ trời
đôi khi theo khách về xa khơi,
lá tròn giữ nguyên gói hàng hóa,
cắt thành trang vở nơi trường đời.

CÁT SỸ
.

*

.
DU TỬ
RONG CHƠI cùng CON CHỮ
*
.

.

.

.

.

.

.
.
tranh của Cinderella Tran
.

.
TỰ GHI CHÉP

Sống qua ngày, tôi như một phu chữ.
Bởi tìm đâu ẩn số một tâm hồn.
Khi chữ nghĩa đảo điên đời trong đục.
Thú và Người lẫn lộn điều dại khôn.

Tôi tự mình ghi chép chuyện muôn phương
Chẳng làm thơ, không viết sách học đường.
Chỉ góp nhặt những mảng trời đất nước.
Cùng bao điều biến đổi tang thương.

La Dạ, 1976
ĐOÀN THUẬN
.

 

.
ĐÔI DÒNG THẾ SỰ

Ghi về thế sự đôi dòng.
Dám đâu mong muốn bạn lòng cùng xem.

Dù từng thao thức bao đêm.
Nghe sương nhỏ giọt ngoài thềm rêu phong.
Tưởng như ai đó long đong.
Bên trời phiêu lãng buồn lòng lệ rơi.

Ai còn ở trọ góc đời.
Cô đơn trước cảnh ma hời nỉ non.
Kẻ ham vui thú vàng son.
Người lo kiệt sức héo mòn xác thân.

Tôi hanh khô tóc đầu trần.
Mưa rơi ướt đẫm gót chân bùn lầy.
Điếng lòng khi gió thu bay.
Lặng câm nhìn bụi phủ dày trang thơ.

Xa rồi thuở nọ i tờ
Thời này sóng mạng vỗ bờ thinh không.

ĐOÀN THUẬN.
.

.
ĐÔI DÒNG LỤC BÁT.

Đôi dòng lục bát ba câu.
Sao ghi hết được mối sầu trần gian.
Sách xưa mối mọt nhấm vàng.

Rách nhầu giấy dó tan hoang.
Án thư nghiên bút miên man gió lùa.
Mực màu tím sắc hoa mua.

Lời thơ lục bát thẹn thùa .
Vẫn thầm ghi nhớ muôn mùa quê hương.
Dù cho phả bụi pha sương.

Dù đời dâu bể đoạn trường.
Mãi lưu ân đức cội nguồn Văn Lang.
Ơn Người gầy dựng giang san.

Câu hò lục bát dân gian.
Lời ăn tiếng nói bốn ngàn năm qua.
Sắc thanh âm điệu quê nhà.

Thảo Điền, 2014
ĐOÀN THUẬN.
.

*

.



.

.

.

.

.

.

.
tranh của Erica Caremics

.

CON CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU

              Sau 1954, ở Tân Lý, nhiều người nghèo thất học. Dân làng mở những lớp học bỏ túi, vận động người biết chữ giúp người mù chữ học đọc học viết.  Vài lớp học mở trên đồi cỏ, bên bờ sông, quanh đồng ruộng cho nông dân nghèo.Trẻ chăn trâu rách rưới  đói ăn, không đủ giấy viết nên lượm que than làm viết, tách mo cau rừng làm giấy.   .

Mo cau thay giấy học trò.                                     
Que than làm bút trời cho trong rừng.        .
Ghi con chữ, lớp triền bưng.                               .
Chữ gầy chữ rách, chữ lừng lửng no.

       Mùa màng dần dà trôi qua, nhiều mục đồng đói chữ theo mùa làm quen với
chữ nghĩa. Trên mo cau rừng, người học khắc từng con chữ để tập viết, tập làm văn, ghi lại cảm xúc trước thiên nhiên thơ mộng, những buồn vui của người nghèo khổ
và chuyện tình hồn nhiên thơ ngây.
.
Đôi dòng trên tấm mo cau.         .        .
Một trang giấy nhỏ ghi bao nỗi niềm,               .
Ngày nào xa lắc tiếng chim
Suối trong in bóng hoa sim bên đồi.

              Bao trang mo không tựa đề, không tên người, không ngày tháng, đã bị bỏ quên, đã mục rã trên cánh đồng làng quê, nhưng mục đồng  ngày ấy đâu dễ nào quên những con chữ đã khắc sâu vào tâm tưởng.                                         .

Xưa lên đồi cỏ cú.                                          .
để hồn theo mây bay.                         .
thả trâu về đồng vắng.                         .
tuổi thơ trôi từng ngày.

            Con chữ trang mo không ghi lại được âm thanh của tiếng chim, tiếng gió hú, lời Mẹ ru nhưng khi về lại đất cũ, nhìn con chữ khắc đôi lời đồng dao, tất cả như vang vọng trong lòng du tử.

Ta về hát bài đồng dao cũ                                   .
của một thời bắt dế chăn trâu.                .
mùa bấc thổi lạnh đồi cỏ cú.                    .
và mây chiều lơ lửng về đâu.

Ta về hát bài đồng dao cũ                               .
lời mẹ thời ru con trong mưa                        .
cùng giun dế hát ngoài bờ cỏ.                        .
lá tre vàng bay ngang liếp thưa.

Trang mo cau đầy con chữ rách xước ốm o của nhóm bạn chăn trâu một thuở, đã thành cổ tích, đã vào tịch liêu.

Đâu rồi một thuở mộng mơ.                                .
Hái hoa bắt bướm mấy bờ lau thưa.           .
Bầy trâu thả láng bao mùa                            .
Đã thành tích cổ ăn mưa cuối trời.

              Đó là những kỷ niệm dễ thương khó phai mờ trong trí nhớ ngây thơ mà cậu bé chăn trâu ngày nào đã ghi lại, trên tấm mo cau, đầy bụi thời gian.

Thảo Điền, 2014
TRẦN CÁT TƯỜNG
.
.

CON CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU

Mục đồng đâu phải học trò.
Que than viết chữ trên mo cau rừng.
Chăn trâu thả láng thả bưng.
Ghi lời tiền bối, khắc từng câu thơ.

An Hội,1964
CÁT SỸ’
.

*

.
CON CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU
*
.

.

.

.

.

.

.

.
.

tranh của Léonardo Bazzaro.

.

HỌC CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU.

Chăn trâu thả láng thả bưng.
Giúp nhau học chữ ven rừng bên sông,
Ê a từng tiếng vỡ lòng,
Giữa đồng mông quạnh tịnh không học trò.

Que than thay bút trời cho.
Làm bài tập viết trên mo cau rừng.
Với con chữ đói, chữ sưng,
Chữ gầy, chữ rách, chữ lừng lửng no.

Đôi dòng chữ chạm trang mo,
Ghi vài mơ ước ấm no sau này.
Trên lưng trâu cặp, trâu bầy,
Mơ sao được sống tháng ngày thư sinh ?

Hoa sen từ giữa bưng sình,
Hương như thơm thảo trước bình minh xanh.
Mục đồng học lóm loanh quanh.
Thầm mong quê mẹ an lành một mai.

Tân Lý, 1960
CÁT SỸ

.
LỚP LÁNG ĐÁ

Lang thang Láng Đá rừng dầu
Lần tìm lớp học chăn trâu ngày nào.
Nước tràn mặt đá bờ lau.
Tiếng chim tu hú gợi bao nỗi niềm.

CÁT SỸ

.

TÌM THĂM LỚP LÁ.

Tìm thăm lớp lá mục đồng.
Bên rừng dầu vắng, ven sông lở bồi.
Nhớ câu lục bát xa xôi.
Lời ca dao cũ một thời tản cư.

CÁT SỸ
.

 

*

.
CON CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU
*

tranh của Pompeo Marian
.

.
CON CHỮ BỤI.

Bao mùa bạn vói bút nghiên.
Lưng gầy cõng sách qua miền quê xưa.
Đôi trang viết phủ bụi thừa.
Lặng yên con chữ buồn chưa thành lời.

Rạch Chiếc, 1962
CÁT SỸ
.

.
.
CON CHỮ VỠ LÒNG

Một trang mo thuở chăn bò.
Ê a tập đọc, ơ o học vần.

Từng ô giấy trắng vuông cân.
Từng con chữ cái bò dần khắp trang.
Âm vần không dấu thanh ngang.
Sắc nghiêng Ngã Nặng Hỏi han dấu Huyền.

Vỡ lòng câu chữ đầu tiên.
Đôi điều “phết phẩy”vào miền âm u.
”Mờ u mu dấu huyền mù”.
Nhắc thầm mù chữ dốt ngu dại khờ.

Chấm than chấm cuối câu thơ.
Như lời than thở i tờ chưa thông.
Để rồi dấu hỏi phải không.
”Tờ i ti sắc… tí” trong mịt mùng.

Vết sâu dấu nặng vô cùng.
Sắc thanh ngữ nghĩa chập chùng tĩnh không.
Đâu hay con chữ đầu lòng.
Nằm trong tâm thức bên dòng thời gian

CÁT SỸ.
.

*

.
CON CHỮ
NGÀY CHĂN TRÂU
*

TRANG MO CAU

Đôi dòng trên tấm mo cau.
Mục đồng khờ khạo ghi bao nỗi niềm.
Từng mùa lưu dấu hoa sim.
Bóng lau bên suối, cánh chim lưng trời.

CÁT SỸ.

TRANG VỞ MO CAU.

Chăn trâu một thuở nhà quê.
Ăn nhờ học lỏm la lê cơ hàn.
Viết, cây chuốt nhọn, que than.
Giấy, mo ép phẳng từ nang cau rừng.

I tờ lớp lá triền bưng.
Thả trâu học ké lừng khừng nhớ quên.
Tờ mo, trang vở không tên.
Từng lằn sọc trắng hằn lên dòng hàng.

Đầu que khắc chữ nằm ngang.
Than đen ghi đậm lên nang mo dày.
Từng con chữ ốm chữ gầy.
Thay lời sông núi cỏ cây ruộng vườn.

Trang mo cau thấm gió sương.
Thấm dòng nước mắt buồn thương dại khờ.
Lời văn ý chữ ngây thơ.
Chìm vào khoảng lặng mù mờ tâm tư.

CÁT SỸ
.

*

.
CON CHỮ
trên
TRANG LƯU BÚT

                 Lưu bút là trang viết tay lưu lại bút tích riêng của một người. Bút tích ấy có thể nhìn thấy ở con chữ, dòng văn, nét ký họa; không thể nhìn thấy nhưng có thể nhận ra tình cảm lặng thầm, ý nghĩ riêng tư.Thế nên, lưu bút cũng là lưu dấu, lưu niệm của tháng ngày đã xa xưa đã cũ kỹ, khuất lấp theo cát bụi.

Những dòng lưu bút bụi vàng khô                        .
nét chữ trang thư mực đã mờ                         .
cánh hoa phượng ép ngày tháng cũ.
lời người heo hút nỗi buồn thu.

Trong thời ly loạn,không ai dám chắc sẽ tiếp bước trên đường đời. Học sinh trung học, sau mùa phượng vĩ, nghĩ đến lúc chia ly, dường như ai cũng muốn lưu bút ngày xanh. Trong đó, bạn đồng song tự tay ghi lại bao kỷ niệm dưới mái trường, ghi lại bóng ngày xanh, giấc mơ tuổi trẻ. Thời gian trôi qua, bạn học cũ mỗi người một phương, con chữ ngày nào như bò ngang qua ký ức, gợi biết bao nhớ nhung .

Con chữ cũ bò qua dòng kẻ nhỏ.                .
mờ nhạt theo vệt mực loang chiều mưa.            .
gọi nỗi nhớ về ngang miền ký ức.              .
áo thư sinh bạc phếch tự bao mùa.

Sau năm 1994, thân hữu của ông ở nhiều nơi gửi về ông những trang viết, dòng thư pháp, nét ký họa trước 1975 do chính tay ông ghi vào tập lưu bút của những người bạn xưa, bạn đồng song, đồng nghiệp, đồng hành trong tháng ngày cũ.

Đã xa vắng đôi bóng hình thơ dại.                .
tờ thư xưa không ghi trọn niềm vui.                    .
những trang viết phất phơ màu ly biệt.                 .
lời chia tay ước hẹn giữa ngậm ngùi

            Rồi một ngày, xa lắc dáng thư sinh, biền biệt bóng người cũ, quạnh quẽ trước bút nghiên, bạc phơ đầu du tử.                         .

Ngày xế bóng lật lại trang đời cũ.                  .
giấy mực đâu lưu mãi nỗi niềm riêng.                 .
người biền biệt chân trời nào viễn xứ.                .
tôi một đời cô quạnh trước bút nghiên.

          * Con Chữ, mảnh giấy, giọt mực tự nó vô tư. Con đường, mảnh đời, giọt thời gian mang ý nghĩa nhất thời. Tất cả luôn chuyển dịch, sẽ mục rã, nát tan, khuất dần. Chỉ những điều bên ngoài con chữ trang viết, bên kia thời gian, sẽ tồn tại lâu dài trong tâm trí của người yêu quí sự thật.

Thảo Điền, 2014.                                          .
TRẦN CÁT TƯỜNG.
.

..
TRANG LƯU BÚT.

Một trang “lưu bút ngày xanh”
của thời trung học nơi thành phố xưa.
Mực nhòe màu nước hạt mưa.
Đâu hay giọt lệ tiễn đưa ngày nào.

Bao mùa nghiên bút bên nhau.
Tiếng ve cánh phượng bay vào mông mênh.
Xa trường lưu lạc lênh đênh.
Từng dòng chữ cũ gợi lên nỗi buồn.

Gợi âm tiếng mõ hồi chuông.
Lời kinh tụng niệm về nguồn an nhiên.
Thầm mong xứ sở bình yên.
Ngây thơ trang viết thắm duyên hẹn thề.

Người đi mù mịt sơn khê.
Người về gió bụi tư bề quạnh hiu.
Ngày xanh lưu bút đôi điều.
Ngày tàn con chữ thiu thiu ngủ thầm

An Nhơn,1969
CÁT SỸ

.

*

.
CON CHỮ
trên
TRANG LƯU BÚT
*

LƯU BÚT XƯA

Đôi trang lưu bút ngày xưa
nhạt nhòa theo bóng nắng mưa bao mùa.
Lời ghi dưới cánh hoa mua
gợi nhiều kỷ niệm, thẹn thùa riêng tôi.

Bơ vơ khờ dại bồi hồi,
vai đầy cát bụi khi rời cố hương.
Gió đưa phấn trắng sân trường,
pha vào mái tóc màu sương, bạc dần.

Trước dòng chữ viết phân vân,
mắt mờ trán mỏi, lòng bâng khuâng buồn.
Muộn phiền như thể bỏ buông,
nhưng thân chưa thoát khỏi nguồn bể dâu.

Thư xưa tuy đã phai màu,
vẫn thầm nhớ mãi lời cầu bình an.

An Nhơn, 2018
ĐOÀN THUẬN
.

.
TRANG BÚT KÝ.

Trang đời, con chữ, câu thơ.
Sắc thanh âm điệu cậy nhờ bút ghi.
Tình người ấm lạnh thầm thì.
Lưu bao lời lẽ vân vi dưới trời.

An Nhơn,1964
CÁT SỸ
.

*

.
TRANG NHẬT KÝ

Một trang nhật ký không ngày.
Trên cánh én mỏng đã bay ngang mùa.
Trên màu sắc tím hoa mua.
Trên vô cùng ngọn sóng đùa bãi dâu.

Gia Định,1966
CÁT SỸ
.

NHẬT KÝ KHÔNG NGÀY.

Một trang nhật ký ghi nhanh.
Khi thời gian chết lạnh tanh bên đời.

Bổng nhiên một chiếc lá rơi.
Nơi bàn viết cũ, dưới trời thu phân.
Lá xanh non nớt lần quần.
Rụng trên trang giấy trắng ngần vô tư.

Giấy thầm tự hỏi thực hư.
Vì đâu lá phải giã từ ngọn cây.
Dù chưa héo úa khô gầy.
Dù mùa thu gió heo may phiêu bồng.

Bút ghi cạnh lá đôi dòng.
Tuy theo nhật ký nhưng không tháng ngày.
Chỉ lưu dấu lại cõi này.
Dáng buồn tĩnh tại hình hài lá thu.

Một mai mưa móc âm u.
Màu phai giấy rách chữ lu mờ dần.
Còn chăng cuống lá bâng khuâng.
Rã rời dưới bụi phân thân theo mùa.

Không ngày, nhật ký te tua..

CÁT SỸ
.

*

 

.
TRANG VỞ CŨ

Một trang vở thuở đầu đời,
Nằm yên dưới lớp bụi thời gian qua.
Bỗng dưng một buổi chiều tà.
Hồn văn bóng chữ gọi xa lắc về.

CÁT SỸ

TRANG SÁCH CŨ

Những trang sách ám bụi dày.
Bìa con mọt nhấm mất ngày thư sinh.
Đôi dòng chữ vẫn lặng thinh.
Trong hồn người cũ bao nghìn thu qua.

CÁT SỸ
.

.
TRANG SÁCH
MÙA TRƯỚC.

Sách thơm mùa trước bụi vàng khô.
Nét chữ trang thư mực đã mờ.
Cánh hoa phượng ép ngày tháng cũ.
Lời người heo hút nỗi buồn thu.

Nước triều lên xuống mãi chân đê.
Mà tuổi đời qua chẳng thấy về.
Cây đường trút lá chờ thu tới.
Ai còn chờ ai trong đêm mê,

Trăng tự ngàn đời rụng bên non.
Hoa nở rồi phai những lối mòn.
Ta ủ hương xưa vào bóng chữ.
Màu chiều chợt điểm nét vàng son.

CÁT SỸ
.

*

.
TRANG THƯ BỤI.

Thời gian phủ bụi trang thư.
Dăm hàng chữ viết mực như mù màu.

Tình thư ngỏ ý ngày nao.
Chỉ còn khoảng lặng đằng sau ngôn từ.
Nhạt nhòa đâu rõ thực hư.
Lâu ngày giấy mực nát nhừ câu văn.

Người đi kẻ ở đôi đằng.
Ghi dòng lưu bút ăn năn tạ từ.
Con tem bưu điện du cư.
Phong bì dấu kín bức thư cuối cùng.

Bên trong con chữ mông lung.
Kê đầu lên giấy lạnh lùng ngủ quên.
Dòng đường dây thép lênh đênh.
Thư trao, người nhận buồn tênh âm thầm.

Bay vào góc khuất bao năm.
Một trang thư lạc, lặng câm, rã rời.
Niềm xưa chữ cũ đôi lời.
Nằm im dưới lớp bụi thời gian trôi.

CÁT SỸ
.

 

.
TRANG VIẾT BỊ BỎ QUÊN.

Một trang viết bị bỏ quên.
Trong lô sách báo kẹt bên góc sàn.
Mốc meo theo bước mùa sang.

Nằm im dưới lớp bụi vàng.
Dòng văn con chữ mơ màng rã riêng.
Lời như trầm mặc du miên.

Ý tình mộng mị ảo huyền.
Khuất vào bóng mực hồn nhiên nhạt nhòa.
Màu loang lốm đốm chúm hoa.

Trang đời lỡ dở bút sa.
Lờ mờ một thoáng xót xa u buồn.
Niềm đau đâu rõ ngọn nguồn.

Thời gian tự nó bỏ buông.

Thảo Điền,2012
ĐOÀN THUẬN
.


   
.tranh của


.
từ TRANG THƯ .5

> về trang chủ.

.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu