trang viết

.

TÙY BÚT CÁT SỸ
.

tranh của Michael Creese

.

          Tùy Bút là “gặp cái gì ghi cái ấy”, tức “ghi lại đôi điều nghe thấy” trên đường đời.  Tùy Bút thường được viết dưới dạng Văn Xuôi,
nhưng Cát Sỹ lại viết theo thể Văn Vần như Lục bát, Haiku, Đường luật, Tự do. Giáo sư giảng dạy Văn chương Quốc âm và Ngữ học
Việt Nam, ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn trứơc 1975, gọi bài viết của ông là “tùy bút cát sỹ”, với ý nghĩa ”dòng ghi chép của học trò tốt”.
Cát Sỹ còn là tên tự của sinh viên Trần văn Thuận. “Tùy bút cát sỹ”
là những bài tùy bút văn vần của Cát Sỹ, có vần điệu như thơ sáng tác, rất cô đọng, dễ lưu lại.

          Phần lớn tùy bút của ông được viết trong thập niên 60 và nằm trong lưu bút hay nhật ký của các nhóm thân hữu, đặc biệt là Nhóm
Tứ La ở Bình Tuy, Nhóm Quốc Âm ở Sài Gòn, Nhóm Ba Lá ở Hà Tiên.  Nhờ sự hổ trợ của quí thân hữu, từ năm 1994, chúng tôi sưu tập
được nhiều bài “tùy bút cát sỹ” bị thất lạc sau 1975 và biên tập theo
các chủ đề như “Mùa bấc biển”, “La Gi ngàn xanh”, “Sài Gòn và tôi”, “Mái xưa”, “Đời sậy”, “Lời chiều”,”Tạ ơn đời”, “Rong chơi cùng cát bụi”,”Mùa thạch thảo”, “Sắc phượng”, “Búp sen”, “Dưới hoa”,
“Khoảng lặng của hoa”, “Tượng”,  “Lửa đầu non”, “Lửa đêm mưa”,
“Thơ thiền Vương” Duy”, “Đường thi”, “Đất và Người”, “Những
điều nghe thấy”, “Tiếng dội từ Đất”, “Họa hủy diệt”… với bút danh
Đoàn Thuận.
Riêng tập Mùa trọ học” vẫn giữ nguyên trạng “tùy bút cát sỹ”, ghi lại những nơi Cát Sỹ từng trú ngụ khi vào đại học ở Sài Gòn
trong thập niên 60. Từ quê lên phố, Cát Sỹ trải qua nhiều thôn xóm vùng ven, nhiều hẻm phố nội thành. Đôi dòng tùy bút ghi lại khung cảnh và cuộc sống chung quanh gác trọ, với “mưa gió cỏ hoa”, với “tình làng nghĩa xóm”. Hình ảnh bèo xanh chở lá úa trôi theo dòng
đời như ghi lại lời tạ ơn của Cát Sỹ đối với ân nhân đã từng giúp
ông học hành đến thành đạt. “Mùa trọ học” đã trôi qua nhưng đôi
điều vẫn còn lưu lại trong trang Tùy bút Cát Sỹ.

Thảo Điền, 2014.                                      .
TRẦN CÁT TƯỜNG
.

.

@
ĐOÀN THUẬN LƯU BÚT
____________________
.

         Lưu bút là trang viết tay lưu lại bút tích riêng của một người.
Bút tích ấy có thể nhìn thấy ở con chữ, dòng văn, nét ký họa; không thể nhìn thấy nhưng có thể nhận ra tình cảm lặng thầm, ý nghĩ riêng tư…Thế nên, lưu bút cũng là lưu dấu, lưu niệm của tháng ngày đã xa xưa, đã cũ kỹ, khuất lấp theo cát bụi.

Những dòng lưu bút bụi vàng khô .
nét chữ trang thư mực đã mờ.
cánh hoa phượng ép ngày tháng cũ.
lời người heo hút nỗi buồn thu.              

Trong thời ly loạn, không ai dám chắc sẽ tiếp bước trên đường đời.
Học sinh trung học, sau mùa phượng vĩ, nghĩ đến lúc chia ly, dường như ai cũng muốn “lưu bút ngày xanh”. Trong đó, bạn đồng song tự tay ghi lại bao kỹ niệm dưới mái trường. ghi lại bóng ngày xanh, giấc mơ tuổi trẻ. Thời gian trôi qua, bạn học cũ mỗi người một phương, con chữ ngày nào như bò ngang qua ký ức, gợi biết bao nhớ nhung .

Con chữ cũ bò qua dòng kẽ nhỏ.               
mờ nhạt theo vệt mực loang chiều mưa.  
gọi nỗi nhớ về ngang miền ký ức.          
áo thư sinh bạc phếch tự bao mùa.

             Sau năm 1994, Thân Hữu của ông ở nhiều nơi gửi về ông những trang viết, dòng thư pháp, nét ký họa trước 1975 do chính tay ông ghi vào tập lưu bút của những người bạn xưa, những bạn đồng song, đồng nghiệp, đồng hành trong tháng ngày cũ.

Đã xa vắng đôi bóng hình thơ dại.
tờ thư xưa không ghi trọn niềm vui
những trang viết phất phơ màu ly biệt
lời chia tay ước hẹn giữa ngậm ngùi

Rồi một ngày, xa lắc dáng thư sinh, biền biệt bóng người cũ,quạnh quẽ trước bút nghiên, bạc phơ đầu du tử.                          .

Ngày xế bóng lật lại trang đời cũ
giấy mực đâu lưu mãi nỗi niềm riêng.
.người biền biệt chân trời nào viễn xứ
tôi một đời cô quạnh trước bút nghiên.

Những trang lưu bút mà Thân Hữu của ông đã sưu tập và giúp ông in thành sách chỉ là một phần của cuộc đời, do “con chữ cũ” ghi lại

Con chữ, mảnh giấy, giọt mực tự nó vô tư. Con đường, mảnh đời, giọt thời gian mang ý nghĩa nhất thời. Tất cả luôn chuyển dịch, sẽ mục rã, nát tan, khuất dần. Chỉ nhừng điều bên ngoài con chữ trang viết, bên kia thời gian, sẽ tồn tại lâu dài trong tâm trí của người yêu quí sự thật.

Thảo Điền, 2014.
TRẦN CÁT TƯỜNG.
.

 

 

@
CON CHỮ ĐẦU LÒNG
__________________

           Khi Pháp trở lại chiếm đóng La Gi, Má tôi bị bắt, Ba tôi cùng
bà con chạy dạt vào cánh rừng phía Nam. Gửi tôi ở lại với Bác Tu,
Ba và anh Lành chạy giặc tiếp về xa. Nơi ở của gia đình Bác Tu là
một chòi lá, gác trên những nhánh cây cổ thụ, khuất sâu giữa Bưng Tràm. Thường ngày, cả nhà đi làm rẫy ở gần đó. Khi có tôi, Bác Tu
bảo chị Liêu ở nhà “giữ Bé”. Chị Liêu là con gái duy nhất của Bác Tu,
đã từng ở nhờ nhà Ba tôi đi học. Bác Tu và Ba tôi rất thân. Chị Liêu,
coi tôi như em ruột, gọi tôi là ” Bé” .

Sợ Bé té xuống bưng, nên đi đâu,Chị cũng dẫn tôi theo.
Một hôm, Chị dạy Bé học chữ A. Trên góc tờ giấy, chị viết lớn chữ A làm mẫu, chỉ vào chữ A, Chị đọc và bảo tôi đọc theo. Chị cầm tay tôi nắn nót viết y chữ A mẫu, từ lớn đến nhỏ dần. Rồi, Chị úp tờ giấy cũ, đưa tờ giấy mới, bảo tôi lập lại những gì vừa làm.Tôi nắn nót viết chữ A mẫu, rồi đọc nhỏ dần với những chữ viết tiếp theo. Chị hôn tay Bé
và dắt Bé ra trước chòi. Nhìn những bông Tràm đong đưa, tôi reo lên: “A”, đẹp quá!  Tôi nhớ mãi nụ hôn của Chị, như lưu dấu một điểm son, một lời khen của Cô Giáo dành cho đứa học trò bé con. Đối với tôi, hôm ấy là buổi học đầu tiên và chữ A là “con chữ đầu lòng”trong đời.

          Chị tiếp tục dạy từng chữ cái sau A và dạy chữ nào “được” chữ đó. Dạy trò Bé nói viết được chữ “A in” và “a thường”, Cô giáo Liêu
dạy tiếp chữ Ă, chữ Â. Tương tự như vậy, khi dạy U,Ư và O,Ô,Ơ…
Chị thường dùng hình ảnh của sự vật cụ thể, để dễ nhớ. Chẳng hạn, khi phân biệt ba chữ O, Ô, Ơ, Chị dùng một câu lục bát:“O tròn
như quả trứng gà, Ô thời đội nón, Ơ già có râu”. Một chiều, ở dưới bếp, Chị chỉ vòng miệng tròn của một nồi đất, hỏi tôi giống chữ gì,
tôi nói O. Chị úp nón lá trên chiếc dừng, tôi nói Ô. Chị để cái muỗng một bên miệng tô, tôi nói Ơ. Chị hôn trán tôi và nói “được lắm”.
Cứ như thế, tôi học được cách bỏ dấu trên những vần đơn.
Tôi viết được  tên bác TU, anh ẤN, mà chưa viết được tên chị LIÊU.

* Hơn một tháng sau, Ba đến đưa tôi về Cù Mi. Khi từ giã,
Chị dặn tôi “ráng học để viết được tên chị”. Chị Liêu là Cô Giáo đầu tiên trong đời tôi, Cô dạy tôi đọc được “con chữ đầu lòng.

Cù Mi, 1972.
CÁT SỸ

*


.thu pháp CÁT SỸ

.

..

.

từ TRANG VIẾT.6
> về trang chủ.

.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu